Những
công ty lớn nhất của ngành thu được tỷ suất lợi nhuận cao nhất cho thấy ngành có
tính kinh tế nhờ quy mô.

Đặc
điểm về thị trường, sản phẩm và khách hàng của ngành
Thuốc
bảo vệ thực vật là những hợp chất hoá học, những chế phẩm sinh học được sử dụng
trong nông nghiệp để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của
những sinh vật gây hại. Theo nghĩa rộng, thuốc bảo vệ thực vật bao gồm các nhóm
chính: (1) thuốc trừ sâu, (2) thuốc trừ bệnh, (3) thuốc trừ cỏ dại, (4) chế phẩm
điều hoà sinh trưởng, (5) Phân bón lá và (6) thuốc trừ động vật gây hại. Do khí
hậu nước ta là nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ cao kéo dài trong năm nên thường
tạo thuận lợi cho sâu bệnh phát triển, thường phát triển thành dịch rộng và có
thể gây thiệt hại lớn cho mùa màng. Vì vậy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
hiệu quả trong nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng
suất nông nghiệp.
Mức độ
tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật hàng năm phụ thuộc vào diện tích đất cho nông
nghiệp, loại cây trồng, mức độ thâm canh tăng vụ, diễn biến dịch bệnh theo từng
mùa vụ (nếu thời tiết diễn biến thuận lợi, ít sâu bệnh hoặc có những giống cây
mới kháng được sâu bệnh tốt hơn thì nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sẽ
giảm). Tuy nhiên, mức độ tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật khó có thể tăng do diện
tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm.
Hiệu
quả sử dụng thuốc phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật sử dụng, nồng độ sử dụng, điều
kiện thời tiết và thời điểm sử dụng. Do đó, bao bì sản phẩm đóng vai trò quan
trọng truyền tải những thông tin hướng dẫn đến người sử dụng sản phẩm. Do người
nông dân năng lực về kỹ thuật còn hạn chế nên để sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
hiệu quả thì các công ty trong ngành đều chú trọng trong việc phát triển dịch vụ
tư vấn, chuyển giao kỹ thuật cho người nông dân.
Thuốc
bảo vệ thực vật sử dụng nhiều loại hoá chất có ảnh hưởng nguy hại tới sức khoẻ
con người, do đó, các cơ quan quản lý kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu các hoá
chất sử dụng để sản xuất các loại thuốc này. Bên cạnh đó, nắm bắt xu hướng xây
dựng nền nông nghiệp xanh, thân thiện với con người và môi trường, các công ty
đang có xu hướng đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng các loại thảo dược, hoá chất vi
sinh thân thiện với môi trường và con người, thay thế dần các nguyên liệu độc
hại trong việc sản xuất các loại thuốc bảo vệ thực vật.
Khách
hàng của ngành là các nhà nông. Do sự đa dạng của sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật
và do hạn chế trong khả năng thẩm định kỹ thuật, người nông dân khi quyết định
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sẽ dựa trên kinh nghiệm từng sử dụng, sự tư vấn từ
các chuyên gia, các đại lý bán hàng và những người thân quen. Thiệt hại do sâu
bệnh gây ra với cây trồng là rất lớn, do đó, khi mua sản phẩm thuốc bảo vệ thực
vật, khách hàng thường nhấn mạnh đến chất lượng của sản phẩm trước so với yếu tố
giá cả. Những sản phẩm có hiệu lực tốt và ổn định thường tạo nên sự trung thành
của khách hàng và giúp khác biệt hoá cho sản phẩm.
Nhà
cung cấp của ngành
Các
doanh nghiệp ở Việt Nam phần lớn chỉ tập trung vào phân phối sản phẩm ngoại nhập
hoặc gia công đóng gói, chiết chai các hoá chất được nhập khẩu. Do phần lớn các
hoá chất dùng để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật trong nước chưa sản xuất được
nên phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu. Do đó, chi phí đầu vào của các doanh
nghiệp trong ngành chịu ảnh hưởng lớn của biến động tỷ giá hối đoái. Hoạt động
thu mua của ngành có tính kinh tế nhờ quy mô. Các công ty quy mô lớn trong ngành
do quy mô mua hàng lớn, thường nhận được các ưu đãi lớn từ nhà cung cấp nước
ngoài về giá cả và thời gian bán chịu. Các nhà cung cấp của ngành rất đa dạng,
phần lớn là những tập đoàn có uy tín trên thế giới trong lĩnh vực hoá chất như:
DuPont Việt Nam (Công ty con của Tập đoàn Dupont – Hoa kỳ), Syngenta (Thuỵ sĩ),
Itochu (Nhật Bản), Sumitomo (Nhật Bản), Starland (Hồng Kông), Changzhou (Trung
Quốc)…
Mức
độ đầu tư cho marketing và kênh phân phối đóng vai trò quyết định trong việc tạo
ra lợi thế cạnh tranh
Những
công ty có tiềm lực trong ngành đều lựa chọn việc đầu tư cho mua quyền sử dụng
đất để đặt chi nhánh và kho hàng, nhằm chủ động trong hoạt động phân phối và
tiết kiệm chi phí thuê mặt bằng. Những công ty có dòng sản phẩm rộng (ví dụ,
thuốc bảo vệ thực vật kết hợp phân bón, giống) cho phép chia sẻ kênh phân phối,
sử dụng hiệu quả diện tích kho hàng và giúp cho kênh phân phối hoạt động hiệu
quả.
Mức độ
phủ rộng của kênh phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên lợi thế
cạnh tranh trong ngành. Những công ty có hệ thống đại lý phân phối nhỏ thường
không cung ứng đủ sản phẩm cần thiết làm cho người nông dân phải chuyển sang mua
sản phẩm của công ty khác. Điều này dẫn đến nguy cơ bị mất thị phần khi bước
sang các vụ tiếp theo.
Để
dành lợi thế cạnh tranh, đầu tư nguồn lực về vốn cho marketing và bán hàng rất
cao, bao gồm các khoản chi như: trang bị xe tải vận chuyển, đầu tư mặt bằng kho
hàng, chi phí cho quảng cáo, xúc tiến bán hàng, các chương trình hợp tác và hỗ
trợ kỹ thuật cho nông dân…. nhằm gia tăng mức độ phủ rộng của kênh phân phối.
Tính kinh tế nhờ quy mô thể hiện rõ trong khâu marketing và bán hàng. Những công
ty có doanh số lớn sẽ giúp giảm chi phí marketing và bán hàng trên mỗi đơn vị
sản phẩm tiêu thụ và đem lại lợi thế chi phí lớn.

Nỗ lực
xây dựng thương hiệu riêng: Bên cạnh việc phân phối các sản phẩm nhập khẩu từ
các tập đoàn hoá chất trên thế giới, các công ty đều nỗ lực nghiên cứu và đưa ra
những sản phẩm mang thương hiệu riêng và tăng dần tỷ trọng doanh số từ những mặt
hàng mang thương hiệu riêng của mình.
Hoạt động nghiên cứu và phát
triển đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh
tranh
Các
công ty trong ngành thường chú trọng hợp tác với các trường đại học và các viện
nghiên cứu nông nghiệp trong việc chế tạo các loại thuốc bảo vệ thực vật mới
hoặc phổ biến kỹ thuật cho người nông dân. Hướng nghiên cứu thường tập trung vào
các sản phẩm mới theo hướng thân thiện với con người và môi trường, thay thế dần
những hoá chất độc hại và góp phần vào giảm giá thành sản phẩm. Hoạt động nghiên
cứu và phát triển cũng thường đòi hỏi vốn đầu tư đáng kể như: đầu tư mặt bằng
cho nghiên cứu thử nghiệm, chi phí phát triển các sản phẩm mới… Đây cũng là hoạt
động có tính kinh tế nhờ quy mô. Những công ty có doanh số bán hàng lớn sẽ giúp
giảm chi phí nghiên cứu và phát triển trên mỗi đơn vị sản phẩm tiêu thụ và đem
lại lợi thế chi phí lớn. Trong khi đó, khâu sản xuất không thể hiện rõ tính kinh
tế nhờ quy mô bởi vì chủ yếu là hoạt động gia công và không đòi hỏi đầu tư lớn
về máy móc thiết bị sản xuất.
Tình hình cạnh tranh trong
ngành
Theo
bản cáo bạch của Công ty cổ phần Thuốc sát trùng Cần Thơ, thị trường thuốc bảo
vệ thực vật có 142 công ty bao gồm: 5 công ty đa quốc gia nước ngoài, 4 doanh
nghiệp nhà nước, 14 công ty cổ phần và 117 công ty TNHH, thêm vào đó là sự cạnh
tranh mạnh mẽ từ các sản phẩm xuất xứ Trung Quốc. Trong đó, công ty đang nắm thị
phần lớn nhất trong ngành, thuộc khu vực FDI là Công ty TNHH Syngenta Việt Nam,
công ty con của Tập đoàn Syngenta của Thuỵ sĩ, công ty hàng đầu thế giới trong
lĩnh vực thuốc bảo vệ thực vật và giống cây trồng. Đối với khu vực doanh nghiệp
trong nước, doanh nghiệp dẫn đầu ngành là Công ty cổ phần Bảo vệ Thực vật An
Giang với thị phần khoảng 26%.
Do số
lượng doanh nghiệp đông đảo, dòng sản phẩm và đối tượng khách hàng trong ngành
là tương đồng nhau (người nông dân) do đó, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong ngành rất mãnh liệt. Các doanh nghiệp trong ngành đều đầu tư mạnh cho việc
phủ rộng kênh phân phối, gia tăng mật độ các đại lý cấp 1, cấp 2, các hoạt động
marketing và các chương trình hỗ trợ người nông dân.
Hàng
rào gia nhập thấp khiến cho số lượng công ty trong ngành tăng và ở mức cao trong
những năm qua, khiến cạnh tranh trong ngành ngày càng gia tăng. Ví dụ, năm 2011,
Sự gia nhập của Công ty cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Cần Thơ, một doanh
nghiệp trong ngành kinh doanh xuất nhập khẩu phân bón và lúa gạo nhằm tận dụng
tối đa kênh phân phối hiện có, với tiềm lực tài chính mạnh cho lĩnh vực sẽ làm
cho cạnh tranh trong ngành trở nên gay gắt hơn. Công ty này đã góp vốn thành lập
công ty con là Công ty cổ phần Nông dược TSC với vốn điều lệ 90 tỷ đồng trong
đó, Công ty đã góp vốn 51.575 triệu đ, chiếm 57,31% vốn điều
lệ.
Mối
tương quan giữa các đối thủ cạnh tranh
Mặc dù
có ngành kinh doanh chủ lực là thuốc bảo vệ thực vật, tuy nhiên, các doanh
nghiệp trong ngành có danh mục sản phẩm tổng thể khác nhau. Các doanh nghiệp có
quy mô nhỏ trong ngành như CTCP Thuốc sát trùng Cần Thơ, do tiềm lực tài chính
còn hạn chế nên chủ yếu tập trung cho sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi
đó, những công ty mạnh trong ngành phần lớn đều đa dạng hoá các dòng sản phẩm
nhằm phát huy tính kinh tế nhờ quy mô của kênh phân phối và hoạt động thu mua
cũng như duy trì đà tăng trưởng.

Do mức
độ tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật khó có thể tăng vì diện tích đất nông nghiệp
đang có xu hướng giảm, do đó, để giải quyết bài toán tăng trưởng nhiều doanh
nghiệp trong ngành mở rộng xuất khẩu (trước mắt là những thị trường Campuchia và
Lào) và đa dạng hoá dòng sản phẩm nhằm phát huy hiệu quả tối đa của kênh phân
phối. Xu hướng phổ biến của các công ty là mở rộng sang kinh doanh giống cây
trồng (ví dụ, Bảo vệ Thực vật An Giang, Nông dược HAI, Bảo vệ thực vật Sài Gòn)
hoặc kinh doanh dịch vụ khử trùng (Công ty Khử trùng Việt Nam, Bảo vệ Thực vật
Sài Gòn). Riêng lĩnh vực chế biến gạo xuất khẩu, do những rào cản gia nhập lớn
(quy định của chính phủ về điều kiện gia nhập đã được nâng lên đáng kể) nên chỉ
những công ty lớn như Bảo vệ Thực vật An Giang hay Công ty thuốc sát trùng Việt
Nam mới đủ tiềm lực đầu tư để gia nhập ngành. Đây là sự đa dạng hoá rất hợp lý
nhằm tạo ra sự tích hợp dọc trong chuỗi giá trị, tiến tới cung cấp các giải pháp
trọn gói: giống, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, dịch vụ nông nghiệp, chế biến
nông sản và tiêu thụ nông sản, từ đó tạo ra tỷ suất lợi nhuận
cao.
Những công ty lớn nhất của
ngành thu được tỷ suất lợi nhuận cao nhất
Những
công ty lớn nhất của ngành thu được tỷ suất lợi nhuận cao nhất cho thấy ngành có
tính kinh tế nhờ quy mô. Tính kinh tế nhờ quy mô này không thể hiện rõ ràng
trong khâu sản xuất, mà thể hiện rõ trong khâu thu mua, marketing và bán hàng
cũng như hoạt động nghiên cứu và phát triển.

Công
ty cổ phần Bảo vệ Thực vật An Giang Nhờ tiềm lực tài chính mạnh, thiết lập được
dòng sản phẩm rộng, đầu tư mạnh cho hoạt động marketing và bán hàng, nghiên cứu
và phát triển, có lợi thế quy mô lớn trong các hoạt động và thị phần lớn nên đã
đem lại một kết quả kinh doanh rất tốt ngay cả trong bối cảnh khó khăn của năm
2011. Trong năm 2011, Công ty này đạt lợi nhuận sau thuế 427 tỷ đồng, từ đó, đưa
đến một tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ROE rất cao
35%.
Các
công ty lớn khác trong ngành mặc dù không đạt được tỷ suất lợi nhuận cao như
người dẫn đầu, tuy nhiên, kết quả kinh doanh cũng khả quan. Ví dụ, công ty lớn
thứ hai trong mẫu là CTCP Khử trùng Việt Nam trong năm qua cũng đã đạt lợi nhuận
sau thuế 95 tỷ đồng và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu đạt
19%.
Tham khảo
TTVN
0 nhận xét